Bệnh cúm gia cầm

I. Đặc điểm bệnh cúm gia cầm

a. Trên thế giới
Bệnh được mô tả lần đầu tiên ở Italy năm 1878 (dự báo là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong tương lai).
Năm 1901, Centanin và Savunozzi đã xác nhận được nguyên nhân gây bệnh là Filterable agent (tác nhân qua lọc).
Năm 1955, Chafer xác định là virut typeA.
Năm 1971, Beard C.W mô tả bệnh tại một đợt lớn trên gà tây.
Bệnh được công bố có hệ thống ở Australya (1975), ở Anh (1979), ở Mỹ (1983), ở Ailen (1984).
Sau đó người ta nhận thấy bệnh phát hiện ở Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Phi, Anh Châu Âu, Nga.
Dịch cúm ở Mỹ năm 1983 – 1984 do virut H5N2 gây ra ở Pensylvania –virginia đã gây thiệt hại hơn 60 triệu USD (do chống dịch), 349 triệu USD bị thiệt hại do giảm sản lượng trứng thịt.
Năm 1985, Úc mất 2 triệu USD chi phí có liên quan.

Năm 1994 dịch xảy ra ở Pakistan.
Năm 1998, dịch xảy ra gây thiệt hại to lớn cho chăn nuôi gà ở Hồng Kông.
Năm 1918, chết hơn 4 triệu gia cầm do H5N1 ở ( Spanish Flu).
Năm 1957, chết 1- 4 triệu ở Asian Flu do typeA ( H2N2).
Năm 1968, ở Hồng Kông chết 1 – 4 triệu con do typeA (H3N2).
2004 (Thái lan và Việt nam),
2005 (Campuchia, Trung Quốc, Inđônexia, Thái lan và Việt Nam)
2006 (đã lan tới Azecbaizan, Aicập, Thổ Nhĩ Kì, Djibuti, Iraq),
2007 (Nigeria, Campuchia, Aicập, Indonesia, Lào, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam).

Tham khảo: Bệnh do vi rút trên gà

Tại Việt Nam, kể từ trường hợp mắc cúm A(H5N1) đầu tiên, vào cuối tháng 12/2003 đã xảy ra 3 đợt dịch với 93 trường hợp mắc, trong đó 42 trường hợp tử vong tại 32 tỉnh/thành phố.
Từ đầu năm 2008 đến nay rải rác một số bệnh nhân tại: Tuyên Quang, Hải Dương, Ninh Bình, và dịch cúm gia cầm tại Phú Thọ, Hà Giang.
Như vậy, Việt nam là nước nằm trong vùng có nguy cơ bùng phát dịch cúm gia cầm rất cao, khả năng lan truyền sang người là rất lớn (virut được truyền trực tiếp từ gia cầm bị bệnh, qua phân của gia cầm, và virut lẫn trong không khí …)

II. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM
a. Căn bệnh
Bệnh do Avian influenza virut thuộc họ Orthomy xoviridae Ortho – tiếng Hy Lạp là “chính”, “đúng”, Myxo là “nhầy” (virut có ái lực với chất nhầy)
Virut có hình cầu, kích thước 80 – 120nm.
Vỏ bọc của virut là glycoprotein, chất chứa kháng nguyên H và kháng nguyên N có 14 loại kháng nguyên H và 9 loại kháng nguyên N.
Mặt trong vỏ virut có lớp protein nền là Matrix protein, có Matrix 1 (M1) và Matrix 2 (M2).
Lõi của virut là một phức hợp ARN, NP (Nucleoprotein) và các enzym.

Tham khảo: Phòng và trị bệnh trên gà

Căn cứ vào độc lực của virut, virut cúm gia cầm người ta chia ra làm 3 loại:
Virut có độ lực cao: có ý kiến đè nghị H7, H5N2 nhưng sau khi thảo luận thống nhất các căn cứ:
Sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch 0,2ml nước trứng 1/10 đã được gây nhiễm virut cho gà 4 – 6 tuần tuổi phải có 75 – 100% gà thí nghiệm chết.
Virut gây bệnh cúm gia cầm phải làm chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển.
Virut có độc lực trung bình: là những chủng virut gây dịch với triệu chứng rõ ràng, nhưng không gây chết quá 15% gà mắc bệnh tự nhiên và 20% gà gây bệnh thực nghiệm.
Virut có độc lực thấp (nhược độc): là những virut phát triển tốt trong cơ thể gà, nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không gây bệnh tích đại thể, không gây chết gà.

Đặc tính nuôi cấy của virut cúm gia cầm
Virut phát triển tốt trong phôi gà 10 – 11 ngày tuổi, lưu giữ được nước phôi vài tuần ở 40 C. Có thể bảo quản nước phôi đó trong điều kiện 700 C hoặc đông khô, virut vẫn giữ được khả năng gây bệnh cao.
Virut phát triển tốt trong tế bào xơ phôi bào (CEI) và tế bào thận chó với điều kiện môi trường nuôi cấy không chứa tripsin.
Virut rất mẫn cảm với focmol, axit clohydric, betapropiolacton (các chất này được sử dụng như chất sát trùng hữu hiệu).

III. Truyền nhiễm học

a. Loài mắc bệnh
Nhiều loài chim (gia cầm, dã cầm), các loại đông vật khác (động vật nuôi và động vật hoang dã) và người.
b. Chất chứa virut
Lượng virut có trong phân cao: 1018 virut/gam phân. Trong bụi có hơn 90% bụi khô ở cơ sở có mầm bệnh.
Vịt có thể nhiễm bệnh trong thời gian dài hơn mà không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, đào thải một lượng virut rất cao trong phân.

c. Cách truyền bệnh
Tiếp xúc trực tiếp giữa con bệnh và con khỏe
Qua hô hấp ( giọt nước, giọt bụi, trong không khí)
Dễ truyền qua quần áo, trang thiết bị, dày ủng.
Vận chuyển gia cầm bệnh.
Di cư theo mùa của các loài chim hoang dã.

IV. Triệu chứng

Thời gian mang bệnh ngắn: vài giờ đến 3 ngày, lâu nhất là 14 ngày (cả đàn đều bị bệnh).
Triệu chứng phụ thuộc vào độc lực, số lượng virut, tuổi gà giới tính, các yếu tố môi trường (mật độ, nhiệt độ, ánh sáng, thành phần không khí).
Nhiều trường hợp gà bệnh không biểu hiện triệu chứng song cũng có khi bệnh xảy ra dữ dội với những triệu chứng.
Triệu chứng thần kinh thường xuất hiện sớm và điển hình như: lắc đầu, vẩy mỏ, chảy nước mũi, gà há hốc mồm thở dốc.
Gà đi lại không bình thường, đi loạng choạng, mệt mỏi, nằm ly bì, túm lại với nhau.
Mặt phù nề, đầu sưng to, mí mắt viêm sưng mọng.
Mào và tích dày lên do thủy thủng, có nhiều điểm xuất huyết, có khi hoại tử ở mào và tích (có giá trị chẩn đoán). Tiêu chảy mạnh, lây lan nhanh, lượng trứng giảm nhiều.
Xuất hiện dưới da và vùng chân ( đặc trưng của bệnh).

V. Bệnh tích

Viêm mũi bị casein hóa gây tịt mũi.
Mào, tích thâm tím, sưng dày lên điểm xuất huyết hoại tử.
Mặc phù nề, đầu sưng to, mí mắt sưng mọng.
Xuất huyết dưới da chân.
Xác gà khô, gầy, thịt thâm xám.
Viêm hoại tử ở gan, lách, thận, phổi.
Dạ dày tuyến viêm, xuất huyết.
Tụy teo, xuất huyết.
Phúc mạc viêm dính.

Mào, tích thâm tím, sưng dày lên điểm xuất huyết hoại tử.

Xuất huyết niêm mạc mắt

Xuất huyết khí quản

Xuất huyết mỡ vành tim

Xuất huyết vùng dưới da chân

Hậu môn xuất huyết

Dạy dày tuyến xuất huyết

Ruột, màng treo ruột, mỡ bụng xuất huyết khác với tất cả bệnh khác

VI. Chẩn đoán
Dịch tễ học
Gà mắt bệnh mọi lứa tuổi (thường gặp 4 – 66 tuần tuổi)
Bệnh nổ ra dồn dập, nhanh chóng trở thành dịch.
Lâm sàng: các triệu chứng bệnh tích điển hình.
Virut học:
Bệnh phẩm: dịch đường hô hấp, tiêu hóa (xử lý qua môi trường có hàm lượng kháng sinh cao).
Tiêm vào phôi gà: lấy 0,2 – 0,3 ml nước bệnh phẩm tiêm vào túi phôi gà 10 – 11 ngày tuổi (nếu bị tạp khuẩn thì phôi chết sau 24 giờ, lấy nước sau 48 – 72 giờ nuôi cấy để xác định virut).
Nuôi cấy vào sơ phôi gà.

VII. Biện pháp phòng chống

Phòng bệnh

Chỉ chọn mua gà ở những cơ sở giống tốt, đảm bảo không có bệnh.

Chỉ chọn mua gà khoẻ mạnh, không nhốt chung gà mới mua về với gà khoẻ đang nuôi, cần cách ly nuôi riêng trong vòng 10 ngày.

Vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại thường xuyên.

Đảm bảo chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi luôn luôn sạch và khô ráo.

Thức ăn, nước uống sạch sẽ.

Hạn chế người ra vào khu vực chăn nuôi.

Có biện pháp ngăn ngừa, không cho gà tiếp xúc với thuỷ cầm, bồ câu, chim trời (không nuôi chung gà với các loại gia cầm và gia súc khác).

Thường xuyên thải loại những gia cầm ốm, yếu ra khỏi đàn.

Thường xuyên sát trùng chuồng gà và khu vực thả gà.

Tiêm vắcxin phòng bệnh theo hướng dẫn của cơ quan thú y.

Khi có dịch bệnh xảy ra

Báo ngay cho cán bộ thú y cơ sở khi thấy gà có hiện tượng ốm, chết.

Không bán chạy gà ốm, không ăn thịt gia cầm trong đàn bị bệnh, không vứt xác chết bừa bãi.

Bao vây ổ dịch, tiêu huỷ toàn bộ gia cầm chết, mắc bệnh và gia cầm khác trong đàn, bằng cách đốt hoặc đào hố chôn sâu với chất sát trùng hoặc vôi bột theo quy định của thú y.

Vệ sinh, tiêu độc ổ dịch theo hướng dẫn của cán bộ thú y.

Lưu ý: Hiện nay, theo quy định, khi phát hiện bệnh cúm gia cầm của một cơ sở chăn nuôi thì toàn bộ số gia cầm của cơ sở đó phải bị tiêu huỷ và tiêu độc, không điều trị vì:

– Tất cả các loại kháng sinh và hoá dược hiện đang sử dụng đều không có tác dụng với bệnh cúm gia cầm.

– Virus cúm gia cầm lây lan rất nhanh, gây nguy hiểm cho tất cả các loài gia cầm, nhiều loài chim và cả cho người.

Chia sẻ bài viết:

Post Comment